Bình vôi hoa đầu có tác dụng gì?
Cập nhật 20/9/2026 · 4 phút đọc · Bài mới
Bình vôi hoa đầu (Stephania cephalantha) là dược liệu rễ củ có vị đắng, tính hơi mặn, được dùng truyền thống để trị sốt do nhiễm trùng, giảm đau khó thở, chườm thương tích và sưng đau khớp nhờ tác dụng chống viêm và giảm sốt, dù cơ chế cụ thể chưa rõ.
Giới thiệu chung
Bình vôi hoa đầu (Stephania cephalantha) là dược liệu rễ củ của cây dây leo thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), phổ biến ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Cây có tên gọi khác như Ngải Tượng, Tử Nhiên, Củ Một, Củ Mối Trộn. Phần dùng làm thuốc là rễ phình thành củ, hình dạng giống bình đựng vôi, vỏ ngoài màu nâu đen, thịt trắng xám, vị đắng. Năm 1940, Bùi Đình Sang đã chiết từ củ bình vôi các chất tinh bột, đường khử oxy, axit malic và me. Cây ưa sáng, thường mọc ở rừng núi đá vôi. Tuy một số nguồn ghi nhận tên khoa học là Stephania glabra (Roxb.) Miers hoặc Stephania rotunda Lour, gây nhỏ lệch trong niên tảng tham chiếu.
Công dụng đã có bằng chứng
Theo Tài liệu Đông y học cơ sở, Bình vôi hoa đầu có vị đắng, tính hơi mặn, không độc. Dùng để trị sốt do nhiễm trùng, giảm đau khó thở, chườm thương tích, sưng đau khớp. Cây chứa các hợp chất tinh bột, đường khử oxy, axit malic và me, làm cơ sở cho hoạt chất chống viêm và giảm sốt. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động cụ thể chưa được làm rõ.
Liều dùng và chú ý
Liều dùng thường là 5–10g thuốc khô, pha nước ngâm hoặc đun súc. Dùng ngoài da chườm cho thương tích, sưng đau khớp. Người dùng nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng điều trị bệnh lý kéo dài. Bình vôi không phù hợp với thai phụ, trẻ em nhỏ, hoặc bệnh nhân tiểu đường, tim mạch nặng.
Kết luận
Bình vôi hoa đầu là dược liệu có lịch sử sử dụng lâu đời trong y học cổ truyền, với một số công dụng đã được ghi nhận như giảm sốt, chống viêm, giảm đau. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học hiện còn hạn chế, chưa có nghiên cứu lâm sàng lớn để khẳng định hiệu quả và an toàn. Người dùng nên tham khảo bác sĩ khi áp dụng điều trị bệnh.
Chưa có đủ dữ liệu bằng chứng cho mục này.
Dùng 5–10g thuốc khô ngâm hoặc đun súc uống, hoặc chườm ngoài da cho thương tích, sưng khớp. Nên tham khảo bác sĩ trước khi dùng lâu dài, đặc biệt với thai phụ, trẻ em, bệnh tiểu đường hoặc tim mạch nặng.