Cây lá bỏng trong ẩm thực và y học cổ truyền
Cập nhật 20/9/2026 · 4 phút đọc · Bài mới
Cây lá bỏng (Kalanchoe pinnata) là cây mọc nhiệt đới, lá dày nước, vị nhạt chua tính mát, dùng truyền thống giải rượu, trừ say bằng nhai nuốp. Nghiên cứu khoa học chỉ ra hoạt chất sinh học tiềm năng nhưng chưa có bằng chứng lâm sàng rõ rệt.
Bối cảnh dùng truyền thống
Cây lá bỏng (Kalanchoe pinnata) là cây thân thảo mọng nước, thuộc họ bỏng (Crassulaceae), thường cao 30–60 cm, thân mềm, lá dày, mép răng cưa, màu xanh lục, bề mặt nhẵn, khi bẻ sẽ chảy nhiều nước. Cây dễ trồng trong chậu hoặc vườn, sinh trưởng tốt ở khí hậu nhiệt đới, và có thể nhân lên nhanh qua cây con mọc trên viền lá. Ở Việt Nam, cây còn gọi là lá sống đời, trường sinh, diệp sinh căn. Theo dân gian, lá bỏng được dùng để giải rượu, trừ say bằng cách rửa sạch, nhai và nuốp trực tiếp. Theo y học cổ truyền, lá có vị nhạt, hơi chua, tính mát, không độc.
Phân biệt với bằng chứng hiện đại
Theo dân gian, lá bỏng được dùng để giải rượu, trừ say bằng cách rửa sạch, nhai và nuốp trực tiếp. Theo y học cổ truyền, lá có vị nhạt, hơi chua, tính mát, không độc. Tuy nhiên, các công dụng chữa bệnh cụ thể chưa được chứng minh khoa học rõ rệt trong các nguồn tham khảo hiện có.
Các nghiên cứu khoa học hiện có
Kalanchoe pinnata is a medicinal plant, used mainly in African, Brazilian, and Indian traditional medicine for the treatment of several human disorders. Whole leaf extracts, crude juice of the leaves, and aqueous and organic extracts of the leaves are used. Over the last decade, ethanolic extracts have become the most popular form of Kalanchoe medicinal preparation. In this study, an ethanolic extract of this plant leaf was tested in a battery of standard regulatory genetic toxicology tests [1].
Kalanchoe brasiliensis and Kalanchoe pinnata are used interchangeably in traditional medicine for treating peptic ulcers and inflammatory problems. In this context, this study aims to characterize the chemical constituents and evaluate the gastroprotective activity of the leaf juices of the two species in acute gastric lesions models. Thin Layer Chromatography (TLC) and Ultra High Performance Liquid Chromatography coupled to Mass Spectrometer (UHPLC-MS) were performed for chemical characterizati [2].
Previously transgenic Kalanchoe pinnata plants producing an antimicrobial peptide cecropin P1 (CecP1) have been reported. Now we report biological testing K. pinnata extracts containing CecP1 as a candidate drug for treatment of wounds infected with Candida albicans. The drug constitutes the whole juice from K. pinnata leaves (not ethanol extract) sterilized with nanofiltration. A microbicide activity of CecP1 against an animal fungal pathogen in vivo was demonstrated for the first time [3].
Hạn chế và kiến thức chưa đủ
Các công dụng chữa bệnh cụ thể chưa được chứng minh khoa học rõ rệt trong các nguồn tham khảo hiện có. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào đặc tính hóa học và một số hoạt chất sinh học cụ thể, chưa có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về hiệu quả điều trị các bệnh lý cụ thể ở người. Khi có nhu cầu sử dụng thuốc, nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dược liệu chuyên môn.
Nguồn tham khảo
- Genotoxicity studies with an ethanolic extract of Kalanchoe pinnata leaves. — pubmed, 2020
- Gastroprotective and Antioxidant Activity of Kalanchoe brasiliensis and Kalanchoe pinnata Leaf Juices against Indomethacin and Ethanol-Induced Gastric Lesions in Rats — pubmed, 2018
- Immunomodulating and Revascularizing Activity of Kalanchoe pinnata Synergize with Fungicide Activity of Biogenic Peptide Cecropin P1 — pubmed, 2017
Chưa có đủ dữ liệu bằng chứng cho mục này.
Có thể rửa sạch lá bỏng, nhai và nuốp trực tiếp để giải rượu hoặc trừ say theo cách dân gian. Tuy nhiên, trước khi dùng điều trị bệnh, nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dược liệu do chưa có chứng minh khoa học đầy đủ.